Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Truyền thuyết về Đền Thác Bà


Đền Thác Bà thuộc thị trấn Thác Bà huyện Yên Bình được công nhận là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh theo quyết định số 701/2004 QĐ-UB ngày 28/12/2004.


Đền Thác Bà hay đền Mẫu Thác Bà – là tên gọi duy nhất, trước sau không hề thay đổi.


Khi chưa có nhà máy Thuỷ điện, đền Thác Bà định vị tại điểm cân bằng phía đông xã Minh Phú huyện Yên Bình, cách thị trấn huyện lỵ cũ 15 km và thành phố Yên Bái 35 km về phía đông nam.


Bố cục thiết kế có dạng đặc dị: lưng quay ra đường 13 A (nay là khu vực Nhà máy Thuỷ điện) nhưng lại giữ vị thế chính môn, nơi Tam Quan bề thế vươn cao, còn tiền diện lại hướng ra sông Chảy có thác đá chảy xiết vào mùa cạn và sóng vỗ ì  ầm giáp cửa đền khi mùa lũ. Các cụ địa phương nói rằng: nét đặc dị đó là do phong thuỷ và dân cảnh tạo nên thế toạ lạc của đền trên dải đất hẹp.


Sân đền sát bờ sông, cổng tam quan kề quốc lộ. Thế đứng của đền vừa hứng thụ khí địa linh ứng của trời đất, vừa tiếp đón khách thập phương chiêm bái thuận tiện. Lý do  vừa tiền vừa hậu là như thế, ngẫm cho cùng thì cách phân tích này đều có sự hợp lý của nó.


Do vậy, hậu đền đậm dáng dấp trần tục đơn sơ song lại hướng đông người và xe cộ; thác sông và dãy sơn lâm trùng điệp bên kia tả ngạn khắc hoạ lên không gian tiền diện đền một cảnh trí hoang dã bóng người.


Theo yêu cầu xây dựng nhà máy Thuỷ điện Thác Bà, tháng 4 năm 1963, nhà đền, thiện nam tín nữ và toàn dân xã Minh Phú tự nguyện rước Mẫu sang xã Vĩnh Kiên bên kia sông Chảy cách vị trí đền Thác Bà 5km để lấy chỗ thi công.


Ngoại trừ truyền thuyết “ông Khổng bà Không” và “Hai ông bà đi buôn” giận dỗi nhau không mấy liên quan hợp lý tới đền Mẫu, người ta chú ý tới chuyện “Tần nữ được thờ ở Thác Bà là con gái vua Hùng thứ 18 với tên Ngọc Hoa Công Chúa”. Thần tích Ngọc Hoa không có nhưng mọi người thừa nhận sự kiêng huý danh xưng “Hoa” của bà con địa phương. Các cụ già còn kể thêm: “Ngày xưa Vua Hùng có ba người con gái lên trông giữ ở ba cửa rừng, một ở núi Giùm bên bờ sông Lô (Tuyên Quang), một ở Đông Cuông bên bờ sông Hồng (Yên Bái) và một ở Thác Bà bên bờ sông Chảy. Tuy nhiên, thần tích của Đền Đông Cuông và đền Giùm không xác định  như vậy.


 




Truyền thuyết về Đền Thác Bà

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2014

Làng nghề đúc đồng Đại Bái


Xã Đại Bái nằm ở phía tây của huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc giáp với xã Lãng Ngâm, Đông Cứu, phía Đông giáp với xã Quỳnh Phú (huyện Gia Bình), phía Tây giáp với xã Mão Điền, An Bình (huyện Thuận Thành), phía Nam giáp với xã Quảng Phú (huyện Lương Tài ).


 Đại Bái thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh là một trong số ít những làng nghềđúc đồng nổi tiếng ở Việt Nam. Theo tương truyền, năm xưa làng Đại Bái còn có tên là làng Văn Lang, nằm trên một dải đất cao bên bờ sông Bái Giang, chuyên sản xuất các dụng cụ thiết yếu trong gia đình bằng đồng như: ấm, mâm, chậu thau… Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ XI, nghề đúc đồng ở nơi đây mới được phát triển mạnh nhờ công của “Tiền Tiên Sư” Nguyễn Công Truyền, người chuyên lo tổ chức sản xuất, tạo mẫu, phát triển thị trường.


Làng nghề Đại Bái là một trong ba thôn thuộc xã Đại Bái. Đây là một làng nghề truyền thống với các nghề chính: Đúc đồng, đúc nhôm, gò nhôm nhưng gò đúc đồng là chủ yếu. Ngoài ra, ở đây còn nhận dát mỏng kim loại, gia công cơ khí, kim khí hoàn chỉnh các chi tiết, chạm khắc kim loại, ghép tam khí…


Đại Bái có tên cổ là làng Bưởi Nồi, cách thủ đô Hà Nội khoảng 35km, cách trung tâm tỉnh Bắc Ninh khoảng 20km ( bên bờ Nam sông Đuống) và cách huyện lỵ Gia Bình 3km có tỉnh lộ 282 chạy qua. Đại Bái có một vị trí địa lý hết sức thuận lợi cho việc phát triển giao lưu kinh tế giữa địa phương với các vùng khác kể cả về đường thuỷ lẫn đường bộ.


Đại Bái có tổng diện tích tự nhiên là 385,2ha, trong đó đất nông nghiệp là 242,7ha(chiếm 63%), đất chuyên dùng là 60,0ha ( chiếm 15,5%), đất dân cư là 27.3ha ( chiếm 7,09%). Đại Bái là một vùng chiêm trũng, dân số đông, do đó có diện tích bình quân đầu người thấp. Năm 2006, dân số trong toàn xã là 8707 khẩu với 2006 hộ, trong đó có 627 hộ sản xuất thuần nông ( chiếm 31,25%), có 1231 hộ ngành nghề kiêm nông nghiệp (chiếm 61,36 %), có 148 hộ chuyên ngành nghề và dịch vụ ( chiếm 7,39%).


 




Làng nghề đúc đồng Đại Bái

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Chùa Bổ Đà – trung tâm phật giáo phái Trúc Lâm Tam Tổ


Vị trí: Chùa Bổ Đà nằm ở phía bắc chân núi Phượng Hoàng thuộc thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. 


Đặc điểm: Chùa Bổ Đà là một trong những trung tâm Phật giáo của phái Trúc Lâm Tam Tổ.


Có từ thời nhà Lý – thế kỷ 11 và được xây lại vào đầu thế kỷ 18, chùa Bổ Đà là một tập hợp di tích gồm chùa chính (Tứ Ân Tự) cùng hai đền thờ Đức Thánh Hóa và Thạch Tướng Đại Vương. 


Chùa Bổ Đà rất đẹp và u tịch, xung quanh là tường đất bao phủ, phía xa có núi sông bao bọc. Nhiều người vẫn gọi Bổ Đà là chùa đất bởi không gian trong chùa man mác một màu nâu của đất, từ bể nước, tường, gạch cũ rêu phong… Về đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng tượng thờ Trúc Lâm Tam Tổ (gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang). Đặc biệt trong chùa còn lưu giữ bộ kinh Phật cổ nhất Việt Nam được khắc trên gỗ thị.


Bộ kinh được hình thành xuất phát từ ý tưởng của các vị tổ sư, đồng thời cũng là những người xây dựng ra ngôi chùa muốn có một bộ kinh để truyền dạy đạo Phật, đồng thời là một di vật Phật học đặc biệt để lại cho đời sau. Bộ kinh mang những tư tưởng của hai dòng Phật giáo lớn nhất Châu Á xưa là Ấn Độ và Trung Hoa. 


Bộ kinh được xếp trên 8 giá, mỗi giá có 4 tập sách kinh gồm 240 tấm ván gỗ hợp thành, tất cả có khoảng gần 2.000 tấm. Mỗi tấm gỗ dùng để khắc kinh dài trung bình 50cm, rộng 25cm và dày khoảng 2,5cm. Nếu muốn xem đồng loạt toàn bộ kho kinh cổ ở đây thì phải có khoảng đất rộng 250m² để rải các tấm ván kinh ra. Bộ kinh được khắc trên gỗ thị, một loại cây gỗ mọc phổ biến ở vùng rừng núi này. Gỗ thị không những bền mà còn rất nhẹ, đây cũng là một đặc điểm thuận lợi để khắc cũng như vận chuyển kinh. 


Trải qua gần 300 năm, bộ kinh hiện nay vẫn còn khá nguyên vẹn. Đặc biệt là những tấm gỗ thị dùng để khắc kinh đều rất bền, đẹp, không bị mối mọt, dù không dùng một loại thuốc bảo quản nào. Kinh được khắc nổi bằng chữ Hán, nét chữ tinh xảo, đến nay vẫn còn rất sắc, rõ nét. 


Đặc biệt, bộ kinh gỗ này có nói đến những đặc trưng của Phật giáo Trung Hoa khi được truyền vào Việt Nam với 3 tông phái (Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông). Trọng tâm của bộ kinh nói đến nỗi khổ của con người và sự giải thoát. Trong đó tiêu biểu nhất là Tứ Diệu Đế – 4 chân lý kỳ diệu của đạo Phật – gồm: Khổ Đế, Nhân Đế, Diệt Đế và Đạo Đế. 


Bộ kinh còn nói đến cõi niết bàn, những vòng luân hồi chuyển kiếp của một đời người, giải thích thế nào là sự tu nhân tích đức, cõi vô vi… Bộ kinh cũng thể hiện những tư tưởng của Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là sự ảnh hưởng của dòng Phật giáo thiền phái Trúc Lâm Tam Tổ. 


Sự độc đáo của bộ kinh đặc biệt này đã thu hút hàng nghìn khách thập phương về đây tham quan, tế lễ mỗi năm.




Chùa Bổ Đà – trung tâm phật giáo phái Trúc Lâm Tam Tổ

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2014

Chùa Phổ Chiếu – lặng thầm cùng năm tháng


Chùa Phổ Chiếu thuộc xã Dư Hàng Kênh, huyện An Hải cũ. Chùa được xây trên khu đất rộng khoảng vài ha, quay hướng Đông, phía sau là con đường liên xã chạy qua. Chùa bố trí theo lối kiến trúc kiểu chữ “công” gồm 5 gian tiền đường, 3 gian ống muỗng và 3 gian hậu cung. Về lịch sử hình thành, ngôi chùa ra đời khá muộn. năm 1953, sư cụ Ngô Chân Tử người làng Cao Mại, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã đến đây xây dựng chùa và trụ trì tại đó.


Lúc đầu, chùa được gọi là Tam Giáo đường, thờ 3 tôn giáo Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo. Đây là nét thường gặp ở các ngôi chùa của Việt nam, nó thể hiện sự hòa hợp về tôn giáo và sự hòa hợp của dân tộc.


Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, chùa Phổ Chiếu từ buổi dầu khởi dựng với tên Tam Giáo đường đã không còn giữ được nguyên trạng của ngôi chùa làng Dư Hàng Kênh. Thể theo nguyện vọng của tăng ni, tín đồ Phật tử và của nhân dân, chùa Phổ Chiếu được trùng tu vào năm 1985. Đặc biệt từ khi Đại Đức Thích Thanh Giác lên trụ trì chùa năm 1989 đã quyên góp công sức của nhân dân, tín đồ Phật tử để mở mang xây dựng thêm để ngôi chùa có diện mạo khang trang như ngày nay. Chùa Phổ Chiếu hiện nay là một địa điểm đẹp hấp dẫn du khách thập phương và các tín đồ. Chùa Phổ Chiếu ngoài ý nghĩa là nơi thờ Phật, nơi sinh hoạt tôn giáo của nhân dân còn là địa điểm ghi nhiều dấu ấn lịch sử của thành phố Hải Phòng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Hiện nay, chùa không ngừng tu sửa để ngày càng khang trang phục vụ đời sống tâm linh của người dân địa phương. Hàng năm vào những ngày lễ Phật Đản (rằm tháng 4), Thượng nguyên (14 tháng giêng), Vu lan(rằm tháng 7)…và các ngàyrằm mồng một, chùa Phổ Chiếu là một trong những nơi thu hút rất đông nhân dân đến cầu phúc cho bản thân, gia đình, bè bạn..Đây thực sự trở thành địa điểm sinh hoạt tôn giáo không những của nhân dân địa phương mà của cả nhân dân thành phố Hải Phòng.




Chùa Phổ Chiếu – lặng thầm cùng năm tháng

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

Tinh xảo nghề trống Dọi Tam, Hà Nam


Ðể làm một chiếc trống phải qua ba bước: làm da, làm tang và bưng trống. Da được chọn để làm trống là da trâu cái, đem bào hết lớp màng, ngâm nước khử mùi chống thối rồi phơi khô. Lớp da ngoài được dùng làm trống to, lớp da dưới dùng làm trống cho trẻ em. Gỗ làm tang trống chủ yếu là gỗ mít- loại gỗ dẻo, mềm không bị cong vênh, nứt vỡ, hơn nữa “Gỗ mít đánh ít kêu nhiều”. Gỗ được cắt thành nhiều khúc sau đó pha thành từng “dăm”. Tùy theo kích cỡ của trống mới định ra bao nhiêu “dăm”, cũng như độ cong và độ dẻo của dăm để khi ghép với thân trống vừa khít, không có kẽ hở. Ngoài ra, để cho trống thật kín người ta còn dùng sơn ta miết vào các khe, cứ một lớp sơn lại có một lớp vải màn. Cuối cùng là bưng trống. Da trâu được quây tròn căng hết cỡ trên mặt trống, rồi đóng cố định vào thân trống bằng đinh chết. Ðinh chốt được làm từ vầu hoặc tre già. Dù trống làm bằng gỗ xoang cầu kì hơn thì dùng gỗ gụ, gỗ dổi.


Trống Đọi Tam hiện diện ở nhiều nơi trong và ngoài nước. Chiếc trống to nhất Việt Nam hiện ở gác trống của Văn Miếu cũng do một nghệ nhân Đọi Tam làm, đường kính 2,1 m.


Nghệ nhân làng Đọi Tam khi có người đặt trống cái lớn thường tự mình đi tìm mua những con trâu to khỏe để thịt. Họ không dám để những anh đồ tể làm vì sợ sẽ hỏng mất bộ da. Mảng da phần đầu, gáy, thậm chí tứ chi cũng được cân nhắc kỹ trước khi đưa dao để rạch. Lột được bộ da lớn nguyên tấm, người thợ trống đem thuộc. Cái hay, giỏi, tài hoa của người thợ trống Đọi Tam thể hiện qua kỹ thuật xử lý da trâu hơn hẳn nhiều làng nghề khác. Giai đoạn công phu này đòi hỏi họ phải có kinh nghiệm.


Những người thợ trống Đọi Tam thường đi mua da trâu vào những ngày trời nắng và khi đem về là phải phơi ngay. Dưới cái nắng gay gắt, da trâu được hong khô, có như vậy tiếng trống mới ấm, vang xa. Trong quá trình bào da, những người thợ có tay nghề phải dồn hết tâm trí vào công việc. Nếu miếng da trâu dày hoặc mỏng hơn “tiêu chuẩn”, tiếng trống sẽ biến âm. Thế nên, cùng một trống cái, hai mặt trống sẽ cho những âm thanh rất khác nhau.


Nghề làm trống của Đọi Tam được gìn giữ bằng những bảo tàng sống, đó là các nghệ nhân. Xưa, nghề này cha truyền con nối. Tất cả những kỹ thuật làm trống của làng chỉ được truyền cho con trai, thứ đến là con dâu. Con gái và con rể không được truyền vì sợ đem nghề đi nơi khác. Như thế đủ biết từ xưa, dù các nghệ nhân làng Đọi Tam chưa biết đến thuật ngữ “độc quyền thương hiệu” của thời hiện đại nhưng họ đã làm rất tốt việc này. Ông Bục kể: “Trai làng Đọi Tam khoảng 10-13 tuổi đã được dạy làm các loại trống nhỏ, kịp đến tuổi 16 tuổi đã có thể theo cha anh đi làm trống đại. Trống sấm chỉ dành cho cánh đàn ông khoẻ mạnh, có kinh nghiệm và kỹ thuật điêu luyện”.


Những năm kinh tế khó khăn, làng trống Đọi Tam vẫn duy trì được nhờ truyền thống giúp đỡ nhau giữa các gia đình làm nghề. Ngày nay, các nghệ nhân Đọi Tam vẫn ra sức bảo tồn nghề truyền thống. Nhiều gia đình vẫn lấy nghề làm trống làm chính và đã có cuộc sống khá giả, sung túc hơn.


Người Đọi Tam còn giỏi chơi trống. Không chỉ biểu diễn trong làng vào ngày lễ hội mùng 6 tháng giêng hằng năm, mỗi khi có nơi mời là đội trống lại lên đường. Dàn trống hàng trăm chiếc lớn nhỏ để trong đình lại được dịp lên ô tô theo nghệ nhân đi biểu diễn.


 




Tinh xảo nghề trống Dọi Tam, Hà Nam

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

Cảnh đẹp Chùa Bái Đính, Ninh Bình


 


Những tính chất tôn giáo có phần bị tình yêu thiên nhiên, tình yêu nam nữ, tình cảm cộng đồng, dân tộc lấn đi. Cả ở những triền núi thấp cao, những rừng cây, rừng thuốc… là những đoàn người trẩy hội. Núi Đính đứng độc lập, sừng sững giữa vùng bán sơn địa, được tạo thành bởi hai dãy núi khép lại hình cánh cung và hướng về phía tây – tựa như tay ngai, mở ra một thung lũng rộng hơn 3 ha – gọi là Thung Chùa. Lên thăm hang động ở núi Bái Đính, du khách bước trên 300 bậc đá, càng lên cao không khí càng trong lành và thoáng mát, mọi lo toan trong cuộc sống đời thường như bị quên lãng. Theo lộ trình du khách lên hết dốc là tới ngã ba: Bên phải là động thờ Phật, bên trái là động thờ Tiên. Phía trên cửa động Phật có 4 chữ đại tự do Lê Thánh Tông khắc trên đá: có nghĩa là: “Lưu Danh Thơm Cảnh Đẹp”. Với sự hiện diện của các pho tượng uy nghiêm hiện, ẩn trong làn hương trầm đang lưu chuyển ở nơi động cao. Đi tiếp theo ngách đá bên trái cuối động sẽ dẫn tới một hang nhỏ hơn, đó là hang thờ Thần Cao Sơn - một vị tướng tài gắn với đất cố đô. Nếu du khách bước tiếp sẽ tới một cửa hang sáng và rộng, một thung lũng xanh hiện ra. Tương truyền rằng đây là nơi có nhiều cây thuốc quý mà Thánh Nguyễn Minh Không thường xuống hái lượm mang về chế thuốc tiên.


Du khách đến lễ hội chùa Bái Đính còn cảm nhận được tình yêu thiên nhiên trong ngày hội lịch sử để từ đó hướng về quá khứ dựng nước của cha ông. Leo núi chơi hang, chơi động với đông đảo mọi người tham gia và hưởng ứng. Cuộc hành hương ấy có thể tạo ra trong con người tâm lý kỳ vọng, muốn vươn lên đến cái đẹp. Các hoạt động hội hè với đấu vật, ném còn, đánh bài, kéo co, thi hát diễn ra khá nhộn nhịp đông vui. Trẩy hội chùa Bái Đính không chỉ dừng lại ở chốn Phật đài hay bầu trời – cảnh bụt, mà trước hết là do sự tiếp xúc, hòa nhập huyền diệu giữa con ngườitrước thiên nhiên cao rộng. Đó là vẻ đẹp của sông nước, đất trời, núi rừng, hang động… Quan niệm lưỡng hợp biểu hiện ở thế đối ứng hai hiện tượng, hai phạm trù khác nhau mà bên nhau, làm cho cuộc hành trình về nơi thờ Phật dù có lúc vất vả nhưng vẫn đem lại sự cân bằng trong tâm thức và thể lực cho du khách. Trẩy hội chùa Bái Đính là hành động giải tỏa hòa hợp giữa thực và mơ, tiên và tục – thực là nền tảng, mơ là uất vọng – trên cái nền mùa xuân tươi sáng mà con người Việt Nam chất phác, nhân ái thuở xưa cảm nhận hành động và trao truyền.


 




Cảnh đẹp Chùa Bái Đính, Ninh Bình

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

Du lịch về sông nước miền Tây


Ôi!Thật tuyệt vời!Thật đáng tiếc cho những ai chưa được đặt chân tới nơi đây.Hay nếu bạn là người yêu mến, thích tìm hiểu lịch sử thì càng không thể không đến với nơi đây, bởi ở đây là cả một vùng lịch sử rộng lớn, với những khu di tích, những con đường lịch sử, những bảo tàng, những chùa chiền nghi ngút khói hương.Không biếtlàmsao để diến tả hết những điều thú vị của miệt vườn sông nước miền tây này. yêu sao màu xanh của miệt vườn, yêu sao màu đỏ của phù sa sông nước, yêu sao màu rêu xanh bám trên những con xuồng, con đò, và cũng yêu sao màu vàng của những cánh đồng lúa chín hứahẹn mộtmùa bội thu.Có thể bạn đến nơi đây với một chuyến du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch văn hoá, hay thậm chí du lịch khám phá thì thay vào đóbạnchỉ cầntham gia vào một chương trình tour “du lịch miệt vườn sông nước” ngắn ngày hay dài ngàybạn sẽ được chứng kiến tận mắt những điều độc đáo của sông nước miền tây, sẽ được thưởng thức những món ăn “no bụng mà vẫn đói con mắt”.chắc chắn bạnsẽ lưu luyến mãi không nguôi.


        Du lịchsông nướcmiền Tâylà vậy đấy, là loại hình du lịch kết hợp của rất nhiều loại hình du lịch khác: sinh thái, nghỉ dưỡng, khám phá, văn hoá,….Và đầu tiên, bạn hãy đến với miệt vườn nơi đây, rồi đến với cảnh sinh hoạt chợ nổi, ẩm thực ven sông, món ăn dân dã đậm chất Nam Bộ,…


Hơn thế nữa, kinh doanh du lịch miệt vườn cũng là một trong những cách giúp chình người dân nơi đây nâng cao mức sống, vì thế miệt vườn ngày càng được chú trọng phát triển, ví dụ như trồng măng cụt tại Kế Sách đều cho hiệu quả kinh tế cao.Theo thống kê của phòng Kinh tế huyện Kế Sách vườn trồng chuyên canh măng cụt 10 năm tuổi có thể đạt giá trị trên 100 triệu đồng/ha / năm. Vườn măng cụt từ 15 đến 20 năm tuổi cho giá trị sản lượng gấp đôi (khoảng 200 triệu đồng/ năm) còn vườn trồng sầu riêng, trồng cây ăn quả có múi, trồng bưởi chất lượng cao cũng không chịu kém, thu nhập không dưới 100 đến 200 triệu đồng/ha/ năm tùy theo vườn và cách chăm sóc.




Du lịch về sông nước miền Tây